Muỗi ẩn nấu chủ yếu trong các ao hồ và đầm lầy hoặc các vũng nước ứ, các vùng ẩm ướt. Chúng đẻ trứng xuống nước, rồi trứng nở thành ấu trùng gọi là con lăng quăng. Bọ gậy sống trong nước 2, 3 ngày, rồi sẽ thành nhộng, tiếp đến chúng biến thành muỗi trưởng thành, bay lên khỏi mặt nước.
Nhiệt độ để cho muỗi phát triển tốt là khoảng 20 đến 25 độ C. Do đó chúng ở các nước nhiệt đới, bao gồm có Việt Nam. Vòng đời của muỗi phụ thuộc loài và nhiệt độ, thay đổi từ vài ngày đến khoảng một tháng.
Muỗi cái có kiêm đâm dạng độc đáo có thể xuyên qua da người và loài vật khác để hút máu. Muỗi cái hút thêm máu để bổ sung nguồn protein sản sinh ra trứng. bữa ăn bình thường của muỗi thường là nhựa cây và hoa quả, không cung cấp đủ protein cho muỗi cái. Những con muỗi đực không có vòi thích hợp để hút máu, Còn có một nhánh muỗi, gọi là Toxorhynchites, không hút máu.
Muỗi cái tìm đến mục tiêu hút máu qua mùi vị và cảm nhận nhiệt. Chúng đặc biệt nhạy cảm với cacbon điôxit ở hơi thở động vật và một số mùi trong mồ hôi. Một số người, ví dụ nam giới, mập và mang trong mình nhóm máu O, bị chú ý bởi muỗi nhiều hơn. Muỗi cảm nhận được tia hồng ngoại phát ra từ vật có thân nhiệt cao, nên dễ tìm được đến con vật và chim máu nóng.
Bọ gậy hay lăng quăng là một dạng ấu trùng của muỗi, hình thành ở giai đoạn thứ 2 trong vòng đời của muỗi. Loài muỗi có 4 giai đoạn trong vòng đời là trứng muỗi, lăng quăng, cung quăng và muỗi trưởng thành. Muỗi cái sẽ đẻ trứng theo từng đợt
Trứng sau khi được đẻ, sau 2 - 3 ngày, trứng thường sẽ nở thành bọ gậy. Tiếp đến, bọ gậy chưa phát triển ngay lập tức mà trải qua 4 giai đoạn khác nhau, gồm: Tuổi đầu tiên, bọ gậy có kích thước khoảng 1,5 mm và ở tuổi thứ tư nó có kích thước khoảng 8 - 10mm.
Bọ gậy hay lăng quăng không có chân nhưng có đầu phát triển, khắp mình phủ nhiều lông, di chuyển được bằng các chuyển động của cơ thể. Bọ gậy ăn tảo, vi khuẩn và những vi sinh vật trong nước. Nơi khí hậu ấm áp, thời gian bọ gậy phát triển thường là khoảng 4 - 7 ngày ngoài ra dài hơn nếu thiếu thức ăn. Tiếp theo, bọ gậy khi đã phát triển đến tuổi thứ tư chuyển hóa thành cung quăng có hình dấu phẩy.
Các cách diệt bọ gậy muỗi truyền bệnh không làm giảm liền số lượng muỗi đốt, nhiều khi phải mất nhiều ngày hoặc vài tuần mới hy vọng giảm số lượng muỗi đốt. Loại bỏ bọ gậy muỗi truyền bệnh bao gồm những cách khác nhau như thau vét bọ gậy, làm thay đổi nơi sinh sản của muỗi, làm cho bọ gậy không sinh trưởng , nảy nở được. Khống chế khiến cho muỗi có thể đến được nơi sinh sản. Bỏ cá và các loài sinh vật ăn bọ gậy khác vào chỗ nơi có bọ gậy muỗi. Đồng thời có thể dùng các loại hóa chất diệt bọ gậy. Các biện pháp can thiệp này nhắm tới mục đích là giảm nguồn gây bệnh đến con người.
Việc làm xử lý nước ở các khu vực đầm lầy, nước tù đọng, đất đai khai khẩn và các biện pháp lâu dài khác được thực hiện từ đầu thế kỷ 20 ở nhiều nơi đã đóng góp rất tích cực trong các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu các bệnh do muỗi gây ra. Tiêu diệt bọ gậy muỗi truyền bệnh cần phải được thực hiện xung quanh nơi sinh sống của chúng ta trong phạm vi rộng hơn phạm vi dự định diệt muỗi. Đối với một vài loài muỗi, phạm vi này khoảng 1,5–2 km. Các biện pháp không có tác dụng lâu dài cần phải được thực hiện suốt trong thời gian có muỗi truyền bệnh hoạt động mạnh.
![]() |
| Những điều cần biết về loài muỗi |
Nhiệt độ để cho muỗi phát triển tốt là khoảng 20 đến 25 độ C. Do đó chúng ở các nước nhiệt đới, bao gồm có Việt Nam. Vòng đời của muỗi phụ thuộc loài và nhiệt độ, thay đổi từ vài ngày đến khoảng một tháng.
Muỗi cái có kiêm đâm dạng độc đáo có thể xuyên qua da người và loài vật khác để hút máu. Muỗi cái hút thêm máu để bổ sung nguồn protein sản sinh ra trứng. bữa ăn bình thường của muỗi thường là nhựa cây và hoa quả, không cung cấp đủ protein cho muỗi cái. Những con muỗi đực không có vòi thích hợp để hút máu, Còn có một nhánh muỗi, gọi là Toxorhynchites, không hút máu.
Muỗi cái tìm đến mục tiêu hút máu qua mùi vị và cảm nhận nhiệt. Chúng đặc biệt nhạy cảm với cacbon điôxit ở hơi thở động vật và một số mùi trong mồ hôi. Một số người, ví dụ nam giới, mập và mang trong mình nhóm máu O, bị chú ý bởi muỗi nhiều hơn. Muỗi cảm nhận được tia hồng ngoại phát ra từ vật có thân nhiệt cao, nên dễ tìm được đến con vật và chim máu nóng.
Bọ gậy hay lăng quăng là một dạng ấu trùng của muỗi, hình thành ở giai đoạn thứ 2 trong vòng đời của muỗi. Loài muỗi có 4 giai đoạn trong vòng đời là trứng muỗi, lăng quăng, cung quăng và muỗi trưởng thành. Muỗi cái sẽ đẻ trứng theo từng đợt
Trứng sau khi được đẻ, sau 2 - 3 ngày, trứng thường sẽ nở thành bọ gậy. Tiếp đến, bọ gậy chưa phát triển ngay lập tức mà trải qua 4 giai đoạn khác nhau, gồm: Tuổi đầu tiên, bọ gậy có kích thước khoảng 1,5 mm và ở tuổi thứ tư nó có kích thước khoảng 8 - 10mm.
Bọ gậy hay lăng quăng không có chân nhưng có đầu phát triển, khắp mình phủ nhiều lông, di chuyển được bằng các chuyển động của cơ thể. Bọ gậy ăn tảo, vi khuẩn và những vi sinh vật trong nước. Nơi khí hậu ấm áp, thời gian bọ gậy phát triển thường là khoảng 4 - 7 ngày ngoài ra dài hơn nếu thiếu thức ăn. Tiếp theo, bọ gậy khi đã phát triển đến tuổi thứ tư chuyển hóa thành cung quăng có hình dấu phẩy.
Các cách diệt bọ gậy muỗi truyền bệnh không làm giảm liền số lượng muỗi đốt, nhiều khi phải mất nhiều ngày hoặc vài tuần mới hy vọng giảm số lượng muỗi đốt. Loại bỏ bọ gậy muỗi truyền bệnh bao gồm những cách khác nhau như thau vét bọ gậy, làm thay đổi nơi sinh sản của muỗi, làm cho bọ gậy không sinh trưởng , nảy nở được. Khống chế khiến cho muỗi có thể đến được nơi sinh sản. Bỏ cá và các loài sinh vật ăn bọ gậy khác vào chỗ nơi có bọ gậy muỗi. Đồng thời có thể dùng các loại hóa chất diệt bọ gậy. Các biện pháp can thiệp này nhắm tới mục đích là giảm nguồn gây bệnh đến con người.
Việc làm xử lý nước ở các khu vực đầm lầy, nước tù đọng, đất đai khai khẩn và các biện pháp lâu dài khác được thực hiện từ đầu thế kỷ 20 ở nhiều nơi đã đóng góp rất tích cực trong các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu các bệnh do muỗi gây ra. Tiêu diệt bọ gậy muỗi truyền bệnh cần phải được thực hiện xung quanh nơi sinh sống của chúng ta trong phạm vi rộng hơn phạm vi dự định diệt muỗi. Đối với một vài loài muỗi, phạm vi này khoảng 1,5–2 km. Các biện pháp không có tác dụng lâu dài cần phải được thực hiện suốt trong thời gian có muỗi truyền bệnh hoạt động mạnh.
